Quy định về chống người thi hành công vụ khi vi phạm luật giao thông ?

0 574

Một số lỗi của người vi phạm giao thông như chống người thi hành công vụ, vi phạm giao thông gây chết người … hoàn toàn có thể bị khởi tố phạt tù theo quy định của pháp luật hình sự hiện nay. Luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể:

1. Mức phạt khi chống người thi hành công vụ khi tham gia giao thông?

Xin chào luật sư, Tôi tên Ngyễn Minh Thư 24 tuổi, tôi muốn nhờ luật sư tư vấn cho tôi vấn đề như sau: Tôi điều khiển xe máy có dung tích 109m3 chạy trên đường quốc lộ có dân cư sinh sống với vận tốc 59km/h và bị cảnh sát giao thông chặn vì vượt quá tốc độ cho phép, là từ 10 – 20km/h. các cảnh sát giao thông có lập biên bản và giữ giấy tờ xe cũng GPLX của tôi.

Nhưng do lúc đó tôi quá hoảng nên có yêu cầu các CSGT cho tôi xem băng ghi hình vượt quá tốc độ là bao nhiêu? và cho tôi xem lại biên bản vi phạm giao thông, các cảnh sát giao thông có cho tôi xem lại hình ảnh mình vi phạm nhưng không cho tôi xem biên bản họ ghi để ký cũng như hướng dẫn tôi ký biên bản. Ngay ngày hôm sau tôi đến cơ quan đóng phạt thì họ bảo tôi là chống người thi hành công vụ, không ký biên bản. Bây giờ tôi có nói sao thì cũng không có ai tin, rằng ngay tại thời điểm vi phạm tôi có yêu cầu cho tôi xem biên bản bi phạm nhưng không ai cho.
Xin hỏi bây giờ nên giải quyết ra sao để tôi lấy lại giấy tờ xe và việc CSGT tố tôi chống lại người thi hành công vụ là đúng hay sai ?

Mong nhận được thư hồi âm càng sớm của luật sư. Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Việc anh yêu cầu cảnh sát giao thông cho băng ghi hình vượt quá tốc độ và biên bản xử lý vi phạm là hoàn toàn đúng quy định. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì:

“Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;”

Do vậy người bị xử phạt là anh có quyền yêu cầu các đồng chí CSGT cho xem lại băng ghi hình lại hành vi vi phạm và biên bản xử phạt.

Hơn nữa, tại khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính có quy định:

“Biên bản vi phạm hành chính phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký; trường hợp người vi phạm không ký được thì điểm chỉ; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cùng phải ký vào biên bản; trường hợp biên bản gồm nhiều tờ, thì những người được quy định tại khoản này phải ký vào từng tờ biên bản. Nếu người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản. Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt.”

Điều đó có nghĩa là không chỉ các đồng chí CSGT phải cho anh xem biên bản xử phạt, hướng dẫn anh ký vào biên bản mà thậm chí còn phải giao cho anh 01 bản. Từ đó có thể kết luận là những hành vi nói trên của các đồng chí CSGT là không đúng với quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính.

Trân trọng./.

2. Chưa đủ 18 tuổi mà vi phạm giao thông xử phạt thế nào ?

Chào luật sư, Em sinh chưa đủ 18 tuổi, Em đang đi thì bị cảnh sát giao thông thổi còi hỏi kiểm tra giấy tờ. E chưa có bằng lái và không mang theo giấy tờ xe. Trong trường hợp này thì e bị phạt hành chính bao nhiêu với lỗi không có bằng và bị phạt bao nhiêu với lỗi không mang giấy tờ ạ ? Ngoài ra chủ xe là bố của em thì có bị phạt không ạ ?
Em cảm ơn

Trả lời:

Căn cứ quy định tại điều 21, Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt quy định như sau:

” Điều 21. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

b) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe;

c) Người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 5, Điểm c Khoản 7 Điều này.

3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không mang theo Giấy phép lái xe, trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 7 Điều này;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không mang theo Giấy đăng ký xe;

c) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô không mang theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (đối với loại xe có quy định phải kiểm định).[…]”

Căn cứ quy định trên thì : Bạn không có giấy phép lái xe sẽ bị xử phạt từ 80 đến 120. 000 đồng. Không mang theo Giấy tờ xe gồm: Bảo hiểm xe máy, Giấy đăng ký xe thì mức phạt cũng tương tự thoe quy định trên. Bố bạn sẽ không bị xử phạt chỉ xử phạt người điều khiển xe.

Thưa luật sư, em có 1 câu hỏi , e bị cảnh sát giao thông sử phạt tội dừng đèn đợi đèn xanh ở ngã tư không si nhan cảnh báo cho phương tiện khác.mà đến lúc đèn xanh em mới si nhan xin rẽ ,nhưng thế cảnh sát giao thông có đúng không ạ ? Em xin cám ơn
Căn cứ quy định tại điểm a, khoản 2, điều 6, Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định như sau:

“Điều 6. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước; […]”

Như vậy, khi bạn dừng xe theo tín hiệu giao thông nhưng bạn không bật xi nhan để báo cho người điều khiển phương tiện khác biết mình sẽ chuyển làn thì bạn đã vi phạm quy định của Nghị định trên.

Cho cháu hỏi ạ , nếu như cảnh sát giao thông dừng xe của cháu , nói cháu vi phạm nối đi trái làn đường , hoặc nói cháu không có xinh an , tín hiệu sang đường , vậy cảnh sát giao thông cần phải đưa ra hình ảnh xác minh không ạ , Theo cháu là có , vì nếu không có hình ảnh xác minh thì làm sao biết là bắt đúng hay sai ? bác giải đáp giúp cháu với.

Căn cứ quy định tại điều 12, thông tư số 01/2016/TT-BCA quy định như sau:

” Điều 12. Các trường hợp được dừng phương tiện

1. Việc dừng phương tiện phải bảo đảm các yêu cầu sau:

a) An toàn, đúng quy định của pháp luật;

b) Không làm cản trở đến hoạt động giao thông;

c) Khi đã dừng phương tiện phải thực hiện việc kiểm soát, nếu phát hiện vi phạm phải xử lý vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.

2. Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát được dừng phương tiện để kiểm soát trong các trường hợp sau:

a) Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;

b) Thực hiện mệnh lệnh, kế hoạch tuần tra, kiểm soát của Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh trở lên;

c) Thực hiện kế hoạch tổ chức tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông của Trưởng phòng Tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc thuộc Cục Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông hoặc Trưởng Công an cấp huyện trở lên;

d) Có văn bản đề nghị của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra; văn bản đề nghị của cơ quan chức năng liên quan về dừng phương tiện để kiểm soát phục vụ công tác bảo đảm an ninh, trật tự, phòng, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Văn bản đề nghị phải ghi cụ thể thời gian, tuyến đường, phương tiện dừng để kiểm soát, xử lý, lực lượng tham gia phối hợp;

đ) Tin báo, tố giác về hành vi vi phạm pháp luật của người và phương tiện tham gia giao thông”

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp cảnh sat giao thông trực tiếp phát hiện hành vi vi phạm giao thông đường bộ thì được dừng phương tiện kiểm soat. Do đó, không cần có hình ảnh xác minh trong trường hợp này.

Tôi điều khiển xe ô tô tải bị vi phạm lỗi “chuyển hướng ô tô không có tín hiệu báo hướng rẽ ” và được cảnh sát giao thông lập biên bản và có hẹn trong biên bản vi phạm là 7 ngày. Nhưng đúng hẹn tôi đến để xử lý thì tôi nhận được câu trả lời là hồ sơ của tôi bị thất lạc và chưa tìm thấy và hẹn tôi cho đến thời điểm hiện tại là đã gần 3 tháng vẫn chưa có. Tôi đã đến phòng cảnh sát giao thông 3 lần để xử lý nhưng vẫn nhận câu trả lời như vậy. Vậy kính thưa luật sư bây giờ tôi có thể khiếu nại người đứng ra lập biên bản được không và người đó có phải chịu trách nhiệm và đền bù thiệt hại trong khoảng thời gian tôi phải ở nhà vì không có GPLX để chạy xe không ?

Căn cứ quy định tại khoản 1, điều 7 của Luật tố cáo năm 2011 quy định như sau:

” Điều 7. Trình tự khiếu nại

1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. […]”

Trường hợp của bạn, để đảm bảo quyền lợi của mình thì bạn có quyền khiếu nại lên Thủ trưởng cơ quan đứng đầu của Phòng cảnh sát giao thông để yêu cầu giải quyết.

Người đứng ra lập biên bản xảu phạt hành vi vi phạm nhưng không thực hiện việc lưu trữ hồ sơ mà nơi lưu trữ hồ sơ là phòng hành chính của cơ quan đó. Việc không giải quyết trả Giấy phép lái xe cho bạn khiến bị ảnh hưởng tới công việc của bạn thì bạn có quyền yêu cầu Cơ quan này bồi thường.

Chào luật sư! tôi có bị cảnh sát giao thông huyện Lương Sơn tỉnh Hòa bình bắt vì lỗi không xuất trình được bằng lái xe vào ngày 24/6/2016. Trong biên bản có ghi tạm giữ chiếc xe dream việt của tôi, và hẹn đúng 8h ngày 1/7/2016 có mặt tại trụ sở công an huyện Lương Sơn giải quyết. tôi đã nhận ra lỗi và nộp phạt số tiền 1 triệu đồng sau đó nhận được tờ phiếu xuống kho lấy xe. Sau khi xuống kho lấy xe tôi phải trả phí là 70k cho 7 ngày, nhưng tôi phát hiện phía kho đã tháo đồ , phụ kiện xe của tôi thay vào là đồ cũ và không phải hàng theo xe của Hon Da. tôi đã có đơn và không nhận chiếc xe của mình vì bị đánh tráo phụ kiện. Vậy luật sư cho tôi hỏi trình tự khởi kiện và quyền lợi của tôi được như thế nào trong trường hợp này, tôi xin chân thành cảm ơn. Sự việc đang rất gấp mong luật sư tư vấn và sớm có phản hồi cho tôi/. Trân trọng cảm ơn.

Căn cứ quy định của nghị định 115/2013/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, thu giữ như sau:

” Điều 9. Trách nhiệm trong quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu

1. Người ra quyết định tạm giữ, tịch thu có trách nhiệm quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tịch thu.

2. Trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo, hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ, tịch thu chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Người trực tiếp quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định tạm giữ, tịch thu về việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện”

Như vậy, trong trường hợp này bạn có quyền khiếu nại lên Cơ quan nơi quản lý, bảo quản tang vật để được giải quyết. Vấn đề bồi thường thì người ra quyết định sẽ phải hiện việc bồi thường.

3. Trách nhiệm bồi thường trong vụ án giao thông ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi ở Hà Nội. Ngày 11/06/2015 vừa rồi tôi bị tai nạn ở Yên Bình – Yên Bái, xe kia ở tại địa phương. Khi xảy ra tai nạn tôi đã thông báo cho cơ quan CA và Bảo Viêt (xe tôi có tham gia cả bảo hiểm trách nhiệm dân sự và vật chất) ; Phía bên xe kia cũng thông báo cho bảo hiểm Pjico (nhưng xe bên đó chỉ tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự).
Sau khi các bên đã xem xét hiện trường, cơ quan Công an đã thông báo bên tôi là bị hại và cho 2 bên thương lượng. Tôi được viết giấy xin xe để đưa về Gara kiểm tu chi tiết sửa chữa và lấy báo giá để cùng với bên có lỗi gây tai nạn thương lượng. Do thiệt hại trên 300 triệu nên bên xe kia không có thiện trí hợp tác giải quyết dân sự. Tôi cũng làm việc với phía bảo hiểm bên tôi xem có cách nào hỗ trợ để giảm thiểu trách nhiệm bồi thường của bên kia, nhưng phía bảo hiểm bên tôi chỉ nói nếu xe tôi sai thì sẽ được bảo hiểm chi trả thiệt hại. Bên thứ 3 sai thì họ phải chịu trách nhiệm và phía bảo hiểm sẽ chỉ nhận ủy quyền của tôi để can thiệp đòi bồi thường của bên thứ 3 (sẽ phải đưa ra tòa án).

Tôi được biết thì bên thứ 3 chỉ có bảo hiểm trách nhiệm dân sự, bảo hiểm bên đó chỉ chi trả tối đa là 70tr/vụ. Sau đó xe kia cũng đã được công an cho đưa đi sửa chữa trong khi vụ việc chưa được giải quyết. Qua thương lượng qua lại 2 bên thì bên kia chỉ nói là cả tiềnbả o hiểm phía bên họ chi trả và họ chỉ có khả năng lo được 100 triệu. Vì sau khi đưa vào Gara kiểm tu chi tiết thì thiệt hại là trên 300 triệu mà tôi cũng là lái xe ăn lương nên không có khả năng khắc phục nên số tiền bồi thường như thế là chưa thỏa đáng. Đến nay đã là 26/06/15, đã 15 ngày mà hai bên vẫn không thỏa thuận được. Tôi đã thông báo tình hình như thế để cơ quan công an giải quyết.

Xin Luật sư tư vấn cho tôi:
– Cách giải quyết của cơ quan công an như thế có hợp lý không khi đã cho cả xe kia đi sửa chữa?
– Nếu vụ việc phải đưa ra tòa án giải quyết thì tôi có được hưởng quyền lợi gì từ bảo hiểm bên tôi tham gia không, thời gian gian quyết tối đa khoảng bao lâu, trong thời gian điều tra và giải quyết vụ việc thì tôi có được giải quyết giấy tờ và bằng lái xe để tôi có thể vẫn tiếp tục công việc được không?
– Việc đề nghị giải quyết bằng pháp luật là do cơ quan công an chủ động hay tôi phải có đơn từ gì không?
– Việc xe tôi được đưa về để đánh giá, báo giá thiệt hại và việccơ quan công an cho xe kia đi sửa chữa khi vụ việc chưa được giải quyết, có ảnh hưởng gì đến việc giải quyết của tòa sau này không?
Xin cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

1. Cách giải quyết của Công an khi đưa xe kia đi sửa.

Khoản 8 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:

“Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.”

Theo quy định trên thì thời hạn tạm giữ xe và giấy tờ là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Trường hợp cần tiến hành xác minh thì tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Như vậy, khi hết thời hạn tạm giữ thì cơ quan Công an có trách nhiệm trả lại phương tiện cho chủ phương tiện mà không phụ thuộc vào việc bạn có đơn xin xe hay không. Việc cơ quan công an đưa xe của người kia đi sửa cũng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bạn.

2. Các quyền lợi khi đưa vụ việc ra Tòa án giải quyết.

– Quyền lợi được hưởng từ doanh nghiệp bảo hiểm:

Điều 7 Nghị định 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 214/2013/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới quy định về phạm vi bồi thường thiệt hại như sau:

“1. Thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra.

2. Thiệt hại về thân thể và tính mạng của hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra.”.

Theo quy định này, khi bạn tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản cho bên bị tai nạn. Như vậy, bạn sẽ không được hưởng bảo hiểm trách nhiệm dân sự từ doanh nghiệp bảo hiểm trong trường hợp này.

Còn đối với bảo hiểm vật chất xe ô tô thì công ty bảo hiểm sẽ bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm những thiệt hại vật chất xe ô tô xảy ra do:

+ Những tai nạn bất ngờ, bất khả kháng trong những trường hợp: Đâm va, lật, đổ, rơi; Hoả hoạn, cháy, nổ; Bị các vật thể khác rơi hoặc va chạm vào;

+ Những tai hoạ bất khả kháng do thiên nhiên: Bão, lũ lụt, sụt lở, sét đánh (trực tiếp), động đất, mưa đá, sóng thần;

+ Mất cắp, mất cướp toàn bộ xe ô tô.

Như vậy, tuy không được hưởng quyền lợi từ bảo hiểm trách nhiệm dân sự nhưng bạn vẫn sẽ được hưởng quyền lợi từ công ty bảo hiểm do bạn có tham gia bảo hiểm vật chất xe ô tô.

– Thời hạn giải quyết vụ án dân sự

Điều 179 BLTTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 quy định:

“1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này, thời hạn là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật này, thời hạn là hai tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

2. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thoả thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

3. Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.”

Như vậy, việc giải quyết vụ án dân sự có thể mất hơn 4 – 6 tháng tùy theo từng loại vụ án.

– Hồ sơ khởi kiện

+ Đơn khởi kiện

+ Các giấy tờ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện (thiệt hại thực tế xảy ra: chi phí sửa chữa xe; chi phí khám chữa bệnh…)

+ CNND, hộ khẩu (bản sao có chứng thực)

Như vậy, trong hồ sơ khởi kiện không yêu cầu bạn phải nộp bằng lái xe nên bạn vẫn có thể giữ lại bằng lái xe để tiếp tục công việc.

3. Giải quyết vụ tai nạn giao thông do cơ quan công an chủ động hay bạn phải làm đơn ?

Cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết vụ tai nạn giao thông theo một trong hai hướng sau:

– Quyết định khởi tố vụ án nếu có dấu hiệu tội phạm. Trường hợp này, vụ tai nạn giao thông sẽ được giải quyết tiếp theo thủ tục tố tụng hình sự

– Quyết định không khởi tố vụ án nếu vụ án không có dấu hiệu tội phạm. Trường hợp này vụ tai nạn giao thông sẽ được giải quyết tiếp theo thủ tục hành chính.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc theo thủ tục hành chính.

Nếu bạn muốn giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự thì bạn phải nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết.

Việc xe bạn được đưa về để đánh giá, báo giá thiệt hại thì đây cũng chính là căn cứ để bạn chứng minh thiệt hại thực tế xảy ra trước Tòa hay nói cách khác việc này còn giúp cho việc giải quyết được dễ dàng hơn. Còn đối với việc xe kia sửa chữa khi vụ việc chưa được giải quyết thì việc này cũng không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết của Tòa án vì họ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bạn chứ bạn không có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại cho họ nếu họ cũng có thiệt hại về tài sản.

4. Người vi phạm luật giao thông bị chết thì bên kia có phải bồi thường không ?

Thưa luật sư, Xe của công ty tôi chở máy công trình đang lưu thông trên đường rộng 58m có giải phân cách ở giữa 2 làn đường. Có một thanh niên điều khiển xe mô tô 3 bánh chạy ngược chiều và đâm trực diện vào xe ô tô. Hậu quả là thanh niên điều khiển xe mô tô tử vong tại chỗ.
Xin luật sư cho biết lái xe ô tô có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không và công ty chúng tôi có phải bồi thường thiệt hại cho thanh niên điều khiển mô tô không?

Trả lời:

Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Như vậy, nếu người lái xe ô tô của công ty bạn không vi phạm giao thông đường bộ, đi đúng làn đường, đúng tín hiệu.. thì người lái xe đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005:

“Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Điều 618 Bộ luật Dân sự quy định:

“Điều 618. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra

Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.”

Điều 623 Bộ luật Dân sự quy định:

“Điều 623. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, trông giữ, vận chuyển, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.”

Như vậy, theo các quy định tại điều 618, 623 thì công ty bạn sẽ phải bồi thường thiệt hại cho thanh niên tử nạn đó nhưng nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người thanh niên đó thì công ty bạn không phải bồi thường thiệt hại.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

5. Gây tai nạn thảm khốc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Thưa Luật sư. Hành vi sử dụng rượu bia rồi điều khiển xe ô tô gây tai nạn làm chết người, hư hỏng tài sản lớn cho người khác thì người nhà nạn nhân có quyền đề nghị truy tố trách nhiệm hình sự đối người điều khiển xe kia hay không? Sẽ bị xử lý như thế nào?
Xin cảm ơn Luật sư.

Luật sư tư vấn:

Chúng ta điều biết sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là hành vi vi phạm pháp Luật về giao thông đường bộ, là hành vi cấm.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Theo khoản 8, điều 8, Luật giao thông đường bộ 2008, thì điều khiển xe ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn là hành vi cấm.

Khi vi phạm về nồng độ cồn sẽ bị xử phạt theo điều 5, Nghị định 46/2016/NĐ-CP như sau:
Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở;

8. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

9. Phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về nồng độ cồn của người thi hành công vụ;

>> Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây tai nạn, gây thiệt hại thì sẽ bị xử lý hình sự theo điều 260, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy: Hành vi sử dụng rượu bia rồi điều khiển xe ô tô gây tai nạn làm chết người, hư hỏng tài sản lớn cho người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người nhà nạn nhân hoàn toàn có quyền đề nghị truy tố đối với người điều khiển xe trong trường hợp nêu trên.